ICP Dfinity- Đánh giá tổng quan

WHAT IS DFINITY?

Internet Computer Protocol (ICP) là giao thức blockchain có khả năng quản lý, vận hành một mạng lưới dữ liệu bằng các node chạy trên các máy chủ trên toàn thế giới. ICP sử dụng các smart contract để tạo ra một blockchain có khả năng mở rộng cao và khả năng phát triển ứng dụng dễ dàng.

ICP là một trung tâm dữ liệu có tính phi tập trung, không phụ thuộc vào bất cứ một hệ thống máy tính nhỏ lẻ nào, mà hoạt động bằng sự đóng góp của tất cả các máy tính cá nhân trong hệ thống. Điều này khiến cho bảo mật mạng lưới được đảm bảo, cũng như khiến cho quá trình phát triển front-end website trở nên dễ dàng khi người dùng có thể truy cập ứng dụng qua các trình duyệt web và điện thoại.

ICP chính là biểu tượng của thế hệ block chain 3.0, hướng tới 3 mục đích: đảm bảo về tính bảo mật, đảm bảo về tính độc lập, đảm bảo đơn giản hoá ở mức tối ưu nhất. 

Cơ sở hạ tầng IT cũ của mạng lưới Internet hiện tại

Với ICP, mạng lưới mạng tương lai có thể giảm thiểu nhiều tầng lớp IT đã lỗi thời, hiện tại chi phí cắt giảm có thể lên đến 3,9 nghìn tỷ nếu mạng lưới ICP có thể đi vào hoạt động thay thế mạng lưới internet truyền thống.

Các công ty tư nhân, người dùng cuối không còn bị phụ thuộc vào các “ông lớn” như Google, Facebook,… Tất cả thông tin cá nhân, quyền quyết định sản phẩm sử dụng của khách hàng không còn bị thao túng bởi các tập toàn lớn thống trị trên thế giới. Những câu chuyện như anh em ngồi với nhau nói chuyện mua quần áo, giày dép là 10 phút sau Facebook tràn ngập quảng cáo về thời trang; hay câu chuyện về Donal Trump bị chặn phát ngôn trên các mạng xã hội như Twitter, Parler, sẽ không còn diễn ra trong một thế giới decentralized trong tương lai. 

Với mục tiêu và tầm nhìn dài hạn mang tầm cỡ vĩ mô, Dfinity đã gọi vốn được thành công con số khủng 166,9 triệu đô sau 7 vòng gọi vốn với sự góp mặt của 13 tổ chức đầu tư lớn dẫn đầu bởi cái tên mà ai cũng biết Andreessen Horowitz (a16z) và Polychain.

TEAM

Dfinity Foundation là tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở chính ở Zurich, Thuỵ Sĩ , quản lý ba trung tâm nghiên cứu lớn tại Palo Alto, San Franciso và Zurich, bên cạnh đó cùng những team trên thế giới như Nhật Bản, Đức, Anh và nhiều nơi trên nước Mỹ. 

Đội ngũ hùng hậu với gần 200 nhân tài trong giới công nghệ đến từ nhiều tổ chức sừng sỏ trên toàn thế giới đã liên tục ngày đêm xây dựng Dfinity từ năm 2016.

Đội ngũ hùng mạnh của dự án Dfinity

Gần đây, Dfinity Foundation đã mở quỹ tài trợ trị giá 220 triệu đô để hỗ trợ các nhà phát triển, thu hút developers về nền tảng.

Bên cạnh đó, ngay từ khi vào trang web của Dfinity là giao diện đậm chất công nghệ kỹ thuật số, đồng thời là lời kêu gọi tham gia coding trên nền tảng thay vì gọi vốn thể hiện ý chí phát triển và mở rộng mạng lưới, chào đón các coder. 

THE PROJECT

Không giống như những dự án blockchain xây dựng trên smart contract (hợp đồng thông minh), Internet Computer còn nhắm tới mục tiêu thay đổi toàn bộ cấu trúc hạ tầng của internet, thay vì chỉ là một tầng ứng dụng. 

Cơ sở hạ tầng của Dfinity

Cấu trúc layer của Dfinity được xây dựng bởi 4 tầng: 

Tầng thứ nhất có tên gọi là Internet Computer (public cyberspace), thông qua các smart contract trên tầng này được gọi là canisters (bao gồm code và data), người dùng và các nhà phát triển có thể triển khai code, lưu trữ dữ liệu.

Sau khi tương tác với phần tầng trên cùng, dữ liệu sẽ đi xuống hai tầng bên dưới bao gồm ICP Protocol và IP/Internet trước khi tới tầng cuối cùng gọi là Trung tâm dữ liệu người dùng của Dfinity.

Sử dụng Internet Computer Protocol sẽ cho phép người dùng tạo các website, phát triển dApps, hệ thống bằng cách đưa thẳng các dữ liệu phát triển lên trên mạng internet mở.

NNS theo dõi các node

Thông qua Network Nervous System (NNS) được phát triển bởi Dfinity Foundation, các nhà phát triển và người dùng sẽ có quyền quyết định dữ liệu của mình được ai truy cập, trao lại quyền quản lý dữ liệu cho người dùng cuối. Bởi vậy, thông tin của người dùng dApp sẽ không rơi vào tay các chủ server, các nhà phát triển server như Facebook, Google,… Không chỉ vậy, bộ não NNS này còn có thể linh hoạt phân chia hoặc gộp các subnet (mạng lưới phụ) để có thể đẩy mạnh tốc độ của mạng mà không làm ảnh hưởng đến các canister. 

Để được chạy node trên nền tảng ICP, các validator phải được cấp chứng nhận DCID (Data Center Identity) thông qua cơ chế quản trị bằng thuật toán của hệ thống NNS (Network Nervous System). Dfinity Foundation nói rằng, khả năng thực hiện giao dịch trên nền tảng của họ sẽ chỉ tốn 3–5 giây — một con số đáng ngưỡng mộ so với nền tảng Ethereum hiện tại.

Trên trang chủ website, các bộ công cụ mà những lập trình viên, nhà phát triển cần để xây dựng và phát triển các canister trên mạng lưới ICP như SDK. Bên cạnh đó, Motoco được giới thiệu là ngôn ngữ lập trình mà Dfinity đã sáng tạo nên để anh em có thể lập trình một cách nhanh chóng và đơn giản nhất và hiệu quả nhất. 

Những người dùng là lập trình viên có thể dễ dàng sử dụng bất cứ ngôn ngữ nào theo chuẩn của Websembly của canister. Ví dụ, anh em nào làm về IT thì khi lập trình một website, ứng dụng thì có rất nhiều thứ phải quan tâm như về code, database, kết nối, quản trị mạng ra sao. Nhưng với Dfinity, anh em có chỉ cần phải quan tâm đến code thôi, còn lại ICP sẽ lo hết, tất cả đều hướng tới đơn giản hoá lập trình. Hơn nữa, các lập trình viên có thể học và sử dụng ngôn ngũ Motoco mà mình vừa nhắc phía trên. (Dfinity đã từng làm một cuộc thử nghiệp lập trình ứng dụng tượng tự Tiktok, kết quả là cần đến 15.000 dòng code với ngôn ngữ lập trình thông thường, nhưng với Motoco chỉ cần vỏn vẹn 1000 dòng).

TOKEN ECONOMICS

Token sử dụng trong Dfinity là ICP.

Bộ não NNS ở đây đóng vai trò phân phối token ICP cho 2 nhóm đối tượng: nhóm stake ICP, nhóm Data Center. 

Đối với nhóm thứ nhất, người dùng, nhà đầu tư, nếu muốn stake ICP thì tối thiểu có thể stake 1 ICP với thời hạn từ 6 tháng tới 1 năm. Có 2 yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của tỷ suất lợi nhuận staking ICP đó là số token được stake và thời gian được lock lại trong neuron. Bên cạnh đó, anh em có thể tham gia vote để nhận thưởng.

Đối tượng thứ hai là Data Center, bất kì ai cũng có thể tham gia vào tầng (layer) này với từ những cơ sở hạ tầng lớn tới nhỏ như dàn máy đào hay thậm chí iPhone. NNS sẽ trả thưởng cho những nhà cung cấp cơ sở, dữ liệu.

Cơ chế đổt token của Dfinity

Nhiều anh em sẽ sợ việc phát thưởng với số lượng lớn sẽ gây ra lạm phát token ICP nhưng không, ngược lại, với cơ chế burn của mình Dfinity đang vô hình chung làm cho ICP trở nên giảm phát.

Tổng cung hiện tại 469,213,710 token trong đó 155,186,565 ICP đang lưu hành.

COMPETITORS

Không hề coi mình là đối thủ của một blockchain truyền thống nào hết vì sự khác biệt về công nghệ và lý tưởng, ngay cả Infinity cũng không tự cho mình là ETH killer như lời đồn, mà cho mình là đối thủ của các công ty tư nhân cho ra các dịch vụ đám mây tập trung hiện nay như Google Cloud, Microsoft Azure, Amazon Cloud,…

Dfinity tự tin rằng mình sẽ cắt giảm 75% chi phí hiện tại dành cho cơ sở hạ tầng IT hiện tại đang sử dụng do các công ty phía trên cung cấp.

Trong tương lai, sẽ nhiều nền tảng và ứng dụng blockchain sẽ được ứng dụng đồng thời, hỗ trợ lẫn nhau; bản thân Dfinity không phải là duy nhất và nhất thiết phải kill bất cứ một blockchain nào khác, những cái mà Dfinity mang đến còn mang ý nghĩa hỗ trợ và bổ trợ cho các blockchain khác phát triển lớn mạnh hơn – đây chính là điểm lợi hại, giá trị cộng thêm của Dfinity theo quan điểm teamhiddengem.

Chúng ta sẽ điểm qua 2 nền tảng blockchain khủng hiện tại là Ethereum và Polkadot để nhìn nhận thêm những gì mà chúng còn thiếu mà Dfinity có thể bù đắp được ha. (Disclaim: nội dung dưới đây không có tính đả kích hay nâng tầm bất cứ một dự án nào).

Như chúng ta có thể thấy, Ethereum hiện đang là “nạn nhân” của chính thành công của mình. Đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Defi, số người dùng mạng lưới ETH tăng đột biến khiến cho mạng lưới bị tắc nghẽn, phí giao dịch quá cao so với dự tính ban đầu của đội ngũ xây dựng. Tuy rằng, mới đây trong tháng 8/2021 này, ETH vừa tiến hành harfolk London chuẩn EIP 1559 nhưng tình hình dường như vẫn không có gì khả quan hơn là bao. Bên cạnh đó, số 57% số node của ETH đang được host trên dịch vụ đám mây (trong đó 40% sử dụng Amazon Web Services – một dịch vụ đám mây tập trung). Đây là điểm ETH cần phải ngày càng khắc phục.

Xét đên Polkadot, founder của DOT cũng là cofounder của ETH, đã lên ý tưởng và phát triển multi – chain. Tuy nhiên, đây là mạng lưới rất phức tạp nên có thể rất khó để phát triển đổng thời đảm bảo tính bảo mật vì mỗi parachain đều có consensus (chuẩn đồng thuận) riêng. Ngoài ra, với giới hạn 100 parachain và được chọn lọc thông qua đấu giá, thứ nhất, không phải dự án nào cũng có đủ khả năng đấu giá, thứ hai, khi thế giới blockchain mở rộng thì số lượng dapp lớn thì con số 100 là quá bé.

ECOSYSTEM

Stablecoins: chưa có

AMM DEX Liquidity: một số cái tên vừa xuất hiện: ICPSwap, Tacen, Sailfish nhưng chưa có mainet và tài liệu.

Oracle: chưa tích hợp với bất kì dự án oracle nào.

Lending & Borrowing: hiện tại mới chỉ có Saifish, chỉ ra phiên bản testnet, chưa hoàn thiện giao diện.

Nền tảng IDO: nền tảng IDO đầu tiên trong hệ sinh thái ICP đã xuất hiện – Dfistarter

Derivatives: trên nền tảng ICP, hiện chưa có bất cứ dự án nào làm về mảng giao dịch phái sinh.

Tuy mọi thứ còn sơ sài nhưng với nền móng vững chắc được xây dựng trong nhiều năm bởi đội ngũ hùng hậu, đây tâm huyết với dự án, teamhiddengem tin rằng hệ sinh thái của ICP sẽ nhanh chóng phát triển trong thời gian tới.

Stay in the Loop

Get the daily email from CryptoNews that makes reading the news actually enjoyable. Join our mailing list to stay in the loop to stay informed, for free.

Latest stories

- Advertisement - spot_img

You might also like...

3
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x